|
Văn hoá Trà Việt Nam gắn bó mật thiết với nền văn minh Đại Việt. Theo Tiến sỹ khoa học Lịch sử, nhà khảo cổ học Hà Hữu Nga (1988), ở Bắc Trung bộ có tập quán uống trà hái cả cành, một ví dụ hùng hồn phản ánh một nếp sống xa xưa, từ ngày con người còn sống bằng phương thức khai thác tự nhiên, mà tiền sử học gọi là nền kinh tế hái lượm phô tạp.
Cố giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, trong chuyên khảo “Cái nôi của cây chè và văn hoá trà” (1999), dẫn sách “Trà Kinh” của Lục Vũ đời Đường, thì cho rằng, người Việt đã có tục pha trà với nước sôi hãm nóng để uống, ít nhất cũng từ năm 264 sau Công Nguyên, mà người Hoa, mãi đến thế kỷ VII (đầu đời Đường) do “học tập người bản địa” mới biết đến tục ấy. Đồng thời, cũng trong chuyên khảo nói trên, ông cũng đồng tình với nhận định của chúng tôi, khi viết “… Cho nên, như ông Tấn Phong nói đúng”.
“Đã có những kết luận khoa học trong và ngoài nước, cho rằng Việt Nam là một trong những cái nôi cổ nhất của cây chè Thế giới, cổ hơn cả cây chè Trung Quốc”
Tuy nhiên, để có một cái nhìn thật sự khoáng đạt và chuẩn tắc về Văn hoá Trà Việt Nam, chúng ta thử nhìn ra hai cái nôi văn minh lớn của nhân loại. Người Trung Quốc đã biết đến trà từ 4000-5000 năm trước. Và họ đã nâng Trà thành một nghệ thuật. Đó là nghệ thuật uống Trà Trung Hoa, rất đẹp, rất tinh tế và cũng rất kiểu cách. Có lúc, như làm xiếc. Ví dụ, trong tiệc Trà (quần ẩm), người hầu Trà (hay châm Trà), cầm một siêu nước sôi cỡ lớn, vòi thẳng đứng, dài đến cả mét, đứng sau lưng khách, rót nước sôi vào tách Trà, tách nào cũng đều tăm tắp, không nhểu ra ngoài đến nửa giọt. Hoặc, tục uống Trà của họ cũng khác ta. Ở Hàng Châu, một trong những cái nôi văn hoá lâu đời và thủ phủ Trà Trung Hoa, Trà được coi như một thứ ẩm thực. Uống trà phải hiểu là “vừa uống vừa ăn búp trà”. Có lẽ tục uống này còn mang dấu vết của thời cổ sơ người Trung Hoa nhai lá chè tươi với muối và gừng coi như là một vị thuốc chữa bệnh chăng? Người viết bài này cũng từng đến một quán trà gọi là “Modern Tea” nhìn ra Tây Hồ bảng lảng sương vào lúc mười giờ sáng, như cảnh thần tiên. Trên tường cao chính tâm cái quán rộng rãi và đẹp mắt này treo một biểu tượng rất lạ: một cái quần (!?) Dĩ nhiên là kích thước đã được phóng to và ghim bằng đinh. Tiếp viên toàn nam thanh nữ tú mười tám đôi mươi. Trà có hàng trăm loại xưa – nay trong một cuốn Menu dày cộp, từ chục tệ đến vài trăm tệ một ấm!
Ở Nhật, người ta gọi Trà là Ô cha. Chữ Ô đi trước chữ cha để tỏ lòng kính trọng đối với Trà. Ô cha gắn liền với Trà Đạo Nhật Bản. Tại một cuộc hội thảo kinh tế Việt – Nhật tổ chức ở Bộ Thương mại cách đây chừng 5 năm, thuyết trình viên là một cựu cố vấn kinh tế của Thủ tướng Nhật. Khi chúng tôi hỏi về Trà Đạo, vị chính khách nổi tiếng này đã đề cập một chi tiết thú vị: nguyên liệu để làm Trà Đạo là trà búp tươi gốc Nhật Bản, không phải là Trà nhập từ Trung Quốc, Srilanca hay Việt Nam. Thêm một sự cầu kỳ của Trà Đạo Nhật Bản. Nghi thức Trà Đạo quá phức tạp dù nó có được tôn vinh thành Đạo, gắn liền với Zen (Thiền) đi chăng nữa. Nhưng đó là bản sắc văn hoá của họ, tôi xin phép không bình luận.
Vậy thì bản sắc Văn hoá Trà Việt Nam là gì? Vẫn theo Cố Giáo sư Trần Quốc Vượng, người Nhật thừa nhận ảnh hưởng ngoại sinh của Trà Đạo từ Việt Nam hơn là ảnh hưởng Trung Hoa. Người Nhật cũng rất thích gốm Chu Đậu của Việt Nam. Như trên đã nói, căn cứ vào sử liệu, thì người Việt Nam biết cách pha trà tươi hãm với nước sôi từ thế kỷ thứ III, nghĩa là trước Trung Quốc ít nhất gần 400 năm và trước Nhật Bản ít nhất cũng gần 500 năm. Trong “An Nam chí lược” (dẫn theo học giả Nhất Thanh, 1976), Lê Tắc chép “Tháng5 năm thứ 8 niên hiệu “Khai bảo” đời Tống Thái Tổ (là năm 875), Đinh Liễn tiến cống vàng lụa… Trà thơm”, và ông bình luận: “Vậy thì có thể chắc là ta uống Trà kiểu thanh cảnh, chứ không dùng tô hoặc chén thật lớn để uống Trà thơm, mà đã là Trà thơm đem tiến cống, ắt là Trà đã phơi khô”. Vậy, ta có trà thơm để uống cách đây đã hơn 1100 năm. Trà là Quốc thuỷ của Việt Nam, gắn chặt và có thể nói là tinh chất của nền văn minh lúa nước của dân tộc ta. Không ồn ào, hoặc quá câu nệ nghi thức, hoặc là sở hữu của một tầng lớp trên nào, Trà đi vào tâm hồn Việt một cách thanh thản, tĩnh lặng, bình dân và tự nhiên. Tự nhiên như cây cỏ, hoa lá, chim muông, củ khoai, củ sắn, cái cày, con trâu. Trà hiện diện ở khắp nơi, từ mảnh vườn sau nhà giữa đồng bằng, bạn với cây cọ Trung du, mọc thành rừng cổ thụ hàng vạn cây ở Miền núi. Người Việt uống Trà là biểu hiện sự giao hoà với trời đất, cỏ cây, để kết bạn. Khi khách đến chơi nhà, chủ nhà y phục chỉnh tề, rửa tay, đun nước, pha Trà mời khách bằng cả hai tay, rất lịch sự, trân trọng. Người Việt Nam, dù ở thành thị hay thôn quê, miền xuôi hay miền ngược, dù sang hay hèn, cũng đều có cách dâng mời Trà trân trọng đầy ngụ ý. Nó khiêm nhường, dung dị, không cần bất cứ một biện giải nào. Mà thông qua Trà, người Việt đã biểu thị một thứ đạo lý làm người, một triết học nhân sinh, một cách cảm thụ cái cao rộng của trời đất. Trà là một nhu cầu của sinh hoạt tinh thần. Mà đã là nhu cầu thì không thể thiếu được. Hơn nữa trong tâm thức người Việt, trà được hiểu theo nghĩa rất rộng. Nước lá vối, nước gạo rang cũng được coi là trà. Rộng ra thì có đủ: nước lá ổi, búp bàng, Atiso, khổ qua, chè vằng, chè dây… Tất cả đều được coi là “trà”. Nguyễn Trãi (1380-1442), trong “Ức Trai thi tập” ít nhất cũng có 5 bài thơ nói đến trà, trong đó có hai phần của bài “Ngôn chí” theo thể thất ngôn bát cú, có nhắc đến chè “hồng mai”. Phần (I): “Cởi tục chè thường pha nước tuyết/tìm thanh trong vắt tịn chè mai” (tịn chè mai tức là hết chè hồng mai cho nên phải uống nước tuyết). Phần II: “Chè mai đêm nguyệt dậy xem bóng/Phiếm sách ngày xuân ngồi chấm câu”. Khi trở về Côn Sơn, ông viết “Bao giờ nhà dựng đầu non/ Pha trà nước suối gối hòn đá ngơi” Hoặc “Mây toả đầy nhà, mai đốt bách, Tùng reo quanh gối, tối đun trà” và trong bài “Đề tranh Vân Oa của Trình Xử Sĩ”, ông viết “Trăng soi trên ghềnh rêu, đầy rừng trúc mọc/Để rửa sạch lòng trần, có chè ngoài hoa/ Để gọi tỉnh mộng buổi trưa, có chim trên gối”. Đến đây, tâm sự của nhà đại thi hào hầu đã bộc bạch rõ. Dùng trà để rửa sạch lòng trần. Trà cùng hoa, chim, trúc, ghềnh, rêu, gió (cây sinh gió) hoà quyện thành một thể thống nhất cùng với bậc danh sĩ, là bạn tâm giao, gột sạch những hệ lụy của cuộc đời phàm tục. Những câu thơ như thế có thể tìm thấy ở nhiều bậc vĩ nhân của nước ta, từ Trần Nhân Tông, Chu An, Cung Đình Vương Trần Phủ đến Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến và đến thế kỷ thứ XX vẫn còn một Vũ Hoàng Chương tha thiết với trà. Vậy là Trà đã gắn bó với Di sản văn hoá tinh thần Việt Nam, qua các áng văn thơ bất hủ của các bậc tiền bối, một cách có hệ thống. Như trên đã nói, người Việt Nam đã Trà hoá cả các thức uống biểu hiện những khía cạnh giao hoà cổ sơ giữa thiên nhiên và con người khác. Phải chăng đây là một quan niệm riêng, một khía cạnh trong bản sắc văn hoá Việt Nam? Hơn nữa, có lẽ chỉ có người Việt Nam mới có tục uống trà lá tươi (hay trà tươi) hãm với nước sôi. Nước chè tươi, trong vắt, sắc đặc, màu xanh ngọc, đựng trong bát sành, với cái điếu cày hoặc điếu bát, củ khoai luộc, - là hình ảnh rất đỗi thân quen của làng quê Việt Nam. Nếu định uống Trà với một thứ đồ ngọt, người ta cũng chọn lựa kỹ để cho tiệc Trà được thanh cao. Có thể kể ra mấy vị như kẹo lạc, kèo vừng thanh, kẹo cu đơ (Xứ Nghệ), bánh cốm Nguyên Ninh, bánh đậu xanh.
Lại nữa, Trà ướp hoa tươi cũng là một thứ sản phẩm riêng của nước ta. Trà Sen, nhài, ngâu sói, cúc, thuỷ tiên, lan… Chuyện kể rằng, một bậc cao nhân ở đất Trà Trung Hoa sang thăm Việt Nam, chủ hỏi khách đã từng được thưởng thức loại trà gì rót từ cùng một chiếc ấm ra bốn loại hương khác nhau không? Khách nghĩ một lát rồi lắc đầu. Chủ đem ra 4 cái tách úp trên bốn cái đĩa, đặt trên khay, bưng ra. Rồi nói người nhà tiêm nước Trà nóng vào 4 cái tách mời khách thử. Đủ 4 vị khác nhau: sen, nhài, ngâu, sói. Thì ra chủ đã ủ nóng 4 loại hương của 4 loại hoa vào tách, rồi rót trà mộc vào. Cái cách mời trà độc đáo này của các cụ đã có từ xa xưa, thật sang trọng và lịch lãm, lại ngay một lúc đáp ứng được nhiều nhu cầu.
Tục uống trà và văn hoá trà Việt Nam cũng biến thiên theo thời gian. Đầu thập kỷ 70, “Trà chén” đã trở thành một tập quán uống mới ở Hà Nội và các đô thị lớn ở miền Bắc. Sau năm 1975, du nhập thêm tập quán uống trà đá ở miền Nam. Và dân nghiền Trà trời Nam cũng bắt đầu tiếp nhận kiểu uống trà đặc cắm tăm của các cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc và các loại Trà đặc sản nổi tiếng của Xứ Bắc đưa vào, nhất là Trà móc câu Thái Nguyên. Độ 10 năm trở lại đây, cùng với tác phong công nghiệp và chính sách mở cửa, Trà Trung Hoa, Đài Loan, Anh đã đưa vào Việt Nam với nhiều cách uống mới, phổ biến trong công chức, giới trẻ với các loại chè túi lọc, uống ngay, thêm đường, sữa, chanh lát mỏng.
Nhưng những kiểu uống truyền thống độc ẩm, đối ẩm, quần ẩm vẫn còn vẹn nguyên với người Việt. Câu thành ngữ “Rượu ngâm nga, trà liền tay” vẫn giữ giá trị kinh điển của nó. Dù nắng, dù mưa, dù buồn, dù vui, lúc hiếu, lúc hỷ, ngày tư tháng Tết, dù uống rượu, uống bia và nhất là những lúc tiệc tùng, vẫn không thể thiếu tách trà.
Để kết thúc bài này, tôi xin trích một đôi đoạn viết về các cụ bà chủ quán Trà ở Hà Nội của tác giả Hoàng Cường Long, một thi nhân, một người bạn gần gũi với người làm chè . Anh viết (2002): “Ngụm nước trà bỏng lưỡi. Hai bàn tay ôm chén nước. Nóng lan vào đến người, ấm hẳn lên trong cái rét thở ra khói… cụ chỉ mua chè của những người quen. Có cụ còn biết rõ chè mình mua trồng ở đâu. “Phải chăng cái hương vị của Trà, đã góp phần làm cho con người ta sáng suốt, thanh cao trong tính cách và nếp nghĩ chân tình của người Việt Nam nói chung, người Hà Nội nói riêng”
Vâng, ở Việt Nam luôn luôn tồn tại một văn hoá Trà thanh lịch và toả hương.
Nguyễn Tấn Phong – Tổng thư ký Hiệp hội Chè Việt Nam
|