Giới thiệu

Hiệp Hội Chè Việt Nam (viết tắt là VITAS) - một trong những Hiệp Hội đầu tiên của Việt Nam, được thành lập vào ngày 19 tháng 7 năm 1988.

Kênh trực tuyến

Tỉ giá ngoại tệ

Thời tiết

Giá vàng

Chứng khoán
HOSE HaSTC
Mã CK TC Khớp lệnh +/-
Giá KL

Web Mail

Liên kết website

Lượt truy cập: 939692

 

Tin tức » Văn Hóa Trà Việt Nam

Nghĩ tiếp về trà Việt

Cuối năm ngoái, dự Festival Trà Việt lần thứ III ở Bảo Lộc (Lâm Đồng) đã viết một bài “Nghĩ về Trà Việt”. Mới rồi, được dự Festival trà quốc tế lần thứ nhất tổ chức tại Thái Nguyên, lại học được thêm nhiều điều mới mẻ.


Những lần tổ chức trước chỉ do Hiệp hội Chè Việt Nam chủ trương, còn Festival quốc tế là do nhà nước chủ trương và lần đầu này giao cho tỉnh Thái Nguyên tổ chức, Thủ tướng đích thân đến dự lễ khai mạc, lại có nhiều khách quốc tế sang dự, phần lớn là bạn hàng của trà Việt.

Lần trước có nói đến cuốn sách của một vị chuyên gia già cả đời gắn bó với cây chè, lần này lại gặp một bạn trẻ vốn là một nhà kinh doanh thiết bị năng lượng mặt trời nhưng lại say mê với “Văn minh trà Việt” mà biên soạn một cuốn sách công phu chẳng khác một sử gia nhà nghề khảo về cội nguồn của thức uống nay đang có cơ hội quảng bá rộng khắp thế giới...

Vẫn là câu chuyện trà vốn gắn với không gian “Bách Việt”, một vùng nguyên sản loại cây này và là nơi sản sinh ra cái văn minh trong cung cách thưởng trà, cho dù cái không gian địa lý ấy ngày nay trên bản đồ thế giới đã được phân định thành những quốc gia riêng biệt, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc. Chỉ có điều trà ban đầu chẳng có liên hệ gốc gác gì với nền văn minh Hán ở phía trên sông Dương Tử trước khi tộc người này tràn xuống phương Nam thôn tính Bách Việt và từng bước nhập phần lớn Bách Việt vào lãnh thổ đế chế Trung Hoa và cũng sở hữu luôn cái văn minh trà của Bách Việt. Chỉ riêng Âu và Lạc Việt nằm ngoài để từng bước hình thành lãnh thổ nước Việt Nam cho đến ngày nay.

Câu trích của Khổng Tử, người sống trước công nguyên nửa thiên niên kỷ: “...Dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước nấu bằng thứ lá cây lấy trong rừng gọi là trà”, rồi những câu chuyện truyền thuyết về một mối tình tan vỡ có nhắc đến chén ngọc của nàng Mỵ Nương con vua Hùng mỗi khi rót nước trà vào lại hiện lên chàng Trương Chi “người thì thậm xấu hát thì thậm hay”... chỉ nhằm chắt lọc từ quá khứ xa xưa những bằng chứng “phi vật thể” liên quan đến tục uống trà của người Việt xưa. Ngoài ra còn vô số bằng chứng “vật thể” đầy tính thuyết phục khác, ví như hạt chè cổ có niên đại tới 13 thiên niên kỷ ở di tích Xóm Trại - hang Con Moong (Thanh Hoá) phát hiện từ năm 1960 và các loại “trà cụ” (những vật dụng có liên quan đến việc uống trà như ấm chén, bếp hay đồ nấu nước) có trong nhiều di chỉ và trở thành một loại hình cổ vật vô cùng phong phú gắn với truyền thống gốm sứ hay chế tác đồ đồng của nhiều thời đại...

Rồi tác giả lại chứng minh rằng nhận thức khoa học về nguồn gốc cây trà cũng như không gian nguyên sản của thứ cây này được khoanh một vùng rộng lớn của Bách Việt xưa nhưng rốt cuộc thì chính một vùng đất trên lãnh thổ của nước Việt Nam hiện nay mới là xuất xứ. Cho dù từ thế kỷ XVII một nhà vạn vật học người Đức là người sớm nhất đưa ra một thuật ngữ khoa học “Thea Sinensis” hàm ý gắn loại cây này với quốc danh Trung Hoa; cũng như một người Anh ở thế kỷ XIX lại khẳng định Ấn Độ mới là gốc gác của cây trà thì đến đầu thế kỷ XX, khi việc nghiên cứu có nhiều thuận lợi hơn, một học giả người Hà Lan khoanh lại vùng đất Đông Dương thuộc Pháp mới là không gian đáng được nghiên cứu nhất để tìm hiểu cội nguồn của trà.

Và gần đây nhất (1974), viện sĩ Liên Xô (K.M.Djemmukhadze) từng được Giải thưởng Lênin đã nghiên cứu trên cơ sở phân tích những tư liệu hoá sinh để dựa trên thuyết tiến hoá của Darwin mà khẳng định rằng chính từ một không gian trong lãnh thổ nước Việt Nam hiện nay, cây trà lan rộng không gian sinh thái sang những vùng nay thuộc lãnh thổ của các nước khác. Thuật ngữ khoa học “Wetnamica” phải được thay thế cho “Thea Sinensis” khi nói đến nguồn cội của trà... Công bố này đựơc đưa ra tại Hội nghị thực vật học toàn cầu lần thứ XII.

Công trình này còn đưa ra thông tin thật đáng quan tâm là số cây trà cổ hoang dã đến nay các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thống kê được có tới hơn một triệu đơn vị mà trên địa bàn Lào Cai là nhiều nhất (846.000), rồi đến Yên Bái (123.400, riêng ở Suối Giàng tập trung tới 84.000 cây đáng gọi là cổ thụ), rồi Hà Giang (107.000)... Riêng ở Lạng Sơn (xã Hùng Sơn, Tràng Định) năm 2006 đã phát hiện một cây cổ thụ mà dân bản địa gọi là “ku đinh”, một loại cây trà đắng cao tới 30m, tán lá rộng tới 25m2, đường kính thân tới 2m... Có cách nào bảo tồn được những cây trà cổ này như những di tích lịch sử tự nhiên, bằng chứng về vùng nguyên sản của cây trà trên đất nước ta khi đây đó đã thấy những cây trà cổ bị bứng về làm cây cảnh, cái mốt mới của thú chơi sinh thái.

Trên nhiều vùng quê Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Bắc Trung Bộ, nơi bảo lưu một cách bền vững nhất những bản sắc văn hoá truyền thống của người Việt xa xưa, tục uống chè tươi tựa như những câu chuyện truyền thuyết nguyên thuỷ nhất của tục uống trà bắt nguồn như một ngẫu nhiên khi một lá trà rơi vào một ấm nước đang đun sôi mà con người phát hiện ra một loại thảo dược mang lại nhiều hương vị đặc sắc cũng như tác dụng mà sau này danh y Tuệ Tĩnh đã khái quát: “Trà làm tâm hồn sảng khoái, thanh nhiệt cơ thể, uống một bát vạn nỗi ưu phiền tan biến”.

Rồi có thể viện dẫn đến rất nhiều dẫn chứng lịch sử hay trong văn học từ quan niệm “Trà Nô” của chúa Trịnh, đến Mạc trà mới đây, còn trong thi ca thì từ Nguyễn Trãi cho tới Gia Long hay Cao Bá Quát để nói rằng việc uống trà đã để lại dấu ấn đậm nét trong đời sống dân ta thì không thể không đặt ra để trả lời câu hỏi vì sao đã là vùng nguyên sản, đã từng có một bề dày lịch sử như vậy mà ngày nay Việt Nam vừa ở một vị thế còn khiêm nhường trong thị trường trà thế giới và chưa có được một giá trị định hình về văn hoá trà trong đời sống đương đại. 

Đặt câu hỏi một cách khác là vì sao, trà của Bách Việt mà người Trung Hoa tiếp nhận đã được tạo ra một sức chinh phục mạnh mẽ thị trường cũng như tạo dựng được một giá trị văn hoá gắn với “Trà Tàu” như một đẳng cấp giá trị vượt trội? Câu trả lời phải chăng có thể tìm thấy trong một nhận định của Phạm Đình Hổ trong “Vũ trung tuỳ bút” ở đầu thế kỷ XIX: “Song gần đây người nước ta đã biết cách chế ra, cũng bắt chước luyện than mà hầm lửa, nắm đất mà nặn lò, so với kiểu Trung Hoa chẳng khác gì, người ta cũng ưa chuộng. Ta nhân lại tiếc cho người cầm quyền xưa nay không biết lưu ý đến việc công nghệ dân ta. Tiếc thay!”.

Cái trội của văn minh Trung Hoa chính là sức quảng bá cả hàng hoá lẫn văn hoá. Chỉ khi đã nhập vào lãnh thổ đế chế Trung Hoa, kể từ thời Đường trà của bách Việt đã thiết lập được những con đường để quảng bá ra khắp thế giới: trên lưng ngựa (trà mã đạo) vượt núi non đến vùng Nam Á như Tây Tạng, Ấn Độ, Tích Lan..., vượt sa mạc trên lưng lạc đà cùng con đường tơ lụa đến với Châu Âu, vượt trùng dương cùng với gia vị đến các quốc gia Đông Nam Á rồi vươn xa hơn theo biển cả... Thiếu cái truyền thống buôn bán, giao thương nên cây trà và thú uống trà của người Việt Nam mình vẫn quanh quẩn trong dân dã.

Cũng có thể nói đến một dẫn chứng gắn với một thương hiệu nổi trội của trà Việt ở Thái Nguyên (vốn là đệ nhất danh trà) là Tân Cương. Thực ra địa danh Tân Cương cũng như thương hiệu gắn với địa danh này mới có chưa đầy một trăm tuổi. Cây trà vốn dĩ nơi đây không có - chỉ đến sau Thế chiến I, một số binh lính người Việt bị chính quyền thuộc địa đưa sang “tùng chinh”: trên chiến trường Châu Âu giải ngũ trở về. Chính quyền thuộc địa mở ra chính sách đưa họ lên những vùng đất mới để khai khẩn với những chính sách khuyến khích theo phương thức mở làng lập ấp.

Xã Tân Cương chính thức được khai sinh năm 1926 trên đất huyện Đồng Hỷ. Người đứng đầu những lưu dân này tên là Nguyễn Đình Tuân (còn gọi là cụ Nghè Sổ) đã đưa cây chè từ Phú Thọ về tổ chức sản xuất. Và có lẽ những kiến thức thu nhận được trong thời gian sống ở Châu Âu giúp cho những cư dân tại đây không chỉ có ý thức về công nghệ sản xuất mà cả ý thức đối với hàng hoá, thị trường nên sản phẩm chè Tân Cương rất nhanh chóng được xác lập trên thị trường. Sản phẩm chè Tân Cương mang nhãn hiệu “Con Hạc” xuất hiện rất sớm trong các cuộc đấu xảo cho thấy chính phương thức kinh doanh đã nhanh chóng tạo nên thương hiệu của vùng đất trà này. Bài học ấy cho thấy cái yếu kém của trà Việt Nam cần được bổ sung chính là việc tổ chức sản xuất và quảng bá sản phẩm còn hạn chế rất nhiều so với thiên hạ.

Tại cuộc hội thảo quốc tế diễn ra trong khuôn khổ Festival ở Thái Nguyên cũng đề cập tới một hiện tượng mới mẻ. Đó là một số cường quốc trà như Trung Quốc, Nhật Bản có xu hướng hạn chế dần việc xuất khẩu để tập trung vào thị trường nội địa. Họ lập luận rằng, dù nhu cầu trà trên thế giới ngày càng tăng, việc cải tiến không ngừng về kỹ thuật canh tác để tăng sản lượng là rất cần thiết nhưng sản phẩm phải ưu tiên đáp ứng thị trường trong nước trước khi mở rộng ra nước ngoài, nhất là xuất khẩu nguyên liệu thô. Hơn thế nữa khi khẳng định trà là một thức uống có lợi cho sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển chất lượng sống thì tại sao không ưu tiên phục vụ đồng bào trong nước trước khi phục vụ thị trường bên ngoài. Vị đại biểu Malaysia có cho biết, đất nước của họ đa sắc tộc (với 3 cộng đồng gốc là Ấn Độ, Trung Hoa và Malay) có những tập quán uống trà khác nhau, nhưng hiện nay đất nước này khuyến khích loại “trà Tàu” và trà xanh vì nó có tác dụng tốt về sức khoẻ trong khi thức uống trà truyền thống bản địa là “trà kéo” (pha trà với sữa) quá nhiều chất không có lợi cho cơ thể.

Trong khi Việt Nam vẫn coi việc xuất khẩu (chủ yếu là nguyên liệu thô) là một mục tiêu, ngoại tệ thu về là một tiêu chí cho sự tăng trưởng thì chính thị trường tiềm năng trong nước (một quốc gia có dân số thứ 13 trên thế giới không bao lâu sẽ là 100 triệu dân) lại chưa được quan tâm. Đất nước nguyên sản trà mà mức tiêu thụ của người dân Việt Nam vẫn là 300g/người/năm, trong khi Châu Âu là 2500g, lãnh thổ Đài Loan 1700g, Trung Quốc lục địa đang phấn đấu 1000g... Chỉ cần khuyến khích dân ta uống trà nhiều hơn cũng có nghĩa là sử dụng một thức uống có chất lượng hơn nhiều thức khác... thì đã mở ra một thị trường tiêu thụ lớn đến nhường nào.

Trong đêm bế mạc Festival trà Thái Nguyên, tôi thấy thấp thoáng trong đám khách được mời đến dự có một người đàn ông mặc chiếc áo màu đỏ chót trên ngực có thêu một con rồng, đó là “Đốc tờ Thanh” của Trà không độ. Khi quyết định lựa chọn đầu tư loại trà này, “Đốc tờ Thanh” có nêu lên bài học của đồng nghiệp Trung Quốc khi đưa ra sản phẩm thức uống nhằm cạnh tranh với Coca Cola là “Trà Vương Lão Cát”. Dùng thương hiệu một thức uống trà cổ còn mang nặng tính dân gian và của một địa phương chưa nhiều người biết đến, những thương gia Trung Quốc đã khai thác triệt để những yếu tố tâm lý dân tộc và đặt mục tiêu cạnh tranh trực tiếp với thức uống phương Tây đang có sức mạnh bành trướng khắp thế giới. Cuối cùng họ đã thành công loại được đối thủ vào đúng dịp Olympic Bắc Kinh 2008. “Đốc tờ Thanh” đã tạo được  những thành công bước đầu và sự có mặt của ông trên vùng đất trà Thái Nguyên vào dịp này phải chăng cũng là một dấu hiệu của giới kinh doanh ngành trà đang hướng tới một nguyên lý “Trà Việt chinh phục người Việt”?    

Dương Trung Quốc (nguồn: Lao Động 19/11)

 

 

CTy thành viên

 
Trung tâm giới thiệu các sản phẩm chè Việt Nam